Khấu trừ thuế GTGT ngân hàng vừa có và không có hoạt động chịu thuế

23/03/2018 560 lượt xem    

Mục lục bài viết

Công văn số: 4945/TCT-CS
V/v chính sách thuế.

Kính gửi: Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“Điều 5. Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT

Tổ chức, cá nhân nhận các khoản thu về bồi thường bằng tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền); tiền thưởng; tiền hỗ trợ; tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.

Cơ sở kinh doanh khi nhận khoản tiền thu về bồi thường; tiền thưởng; tiền hỗ trợ nhận được; tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác thì lập chứng từ thu theo quy định. Đối với cơ sở kinh doanh chi tiền, căn cứ mục đích chi để lập chứng từ chi tiền.”

– Tại Khoản 11 Điều 14 TT219/2013/TT-BTC nêu trên hướng dẫn về nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

“11. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ không kê khai, tính nộp thuế GTGT hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư này (trừ khoản 2, khoản 3 Điều 5) được khấu trừ toàn bộ.”

– Tại Khoản 9 Điều 1 TT26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“2. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ (kể cả tài sản cố định) sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.

Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm cả doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế không hạch toán riêng được.”

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 8775/CT-TTHT ngày 30/9/2015 và công văn số 4190/CT-TTHT ngày 26/5/2015 của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh về thuế GTGT. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ hướng dẫn nêu trên, trường hợp Ngân hàng TMCP Phát triển TP. HCM vừa có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (dịch vụ chuyển tiền…) và không chịu thuế GTGT (lãi tiền vay) thì Ngân hàng chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Ngân hàng phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm cả các khoản thu tài chính (thu lãi góp vốn mua cổ phần, thu lãi từ đầu tư chứng khoán) thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế không hạch toán riêng được.

Căn cứ hướng dẫn nêu trên:

Trường hợp Ngân hàng TMCP Phát triển TP. HCM vừa có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (dịch vụ chuyển tiền…) và không chịu thuế GTGT (lãi tiền vay) thì Ngân hàng chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.

Ngân hàng phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm cả các khoản thu tài chính (thu lãi góp vốn mua cổ phần, thu lãi từ đầu tư chứng khoán) thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế không hạch toán riêng được.

Chúc các bạn thành công!

Tìm hiểu thêm về kế toán, kiểm toán, thuế tại calico.vn hoặc kiemtoancalico.com

Bài viết có ích cho bạn?
Banner-post-thu-vien-calico_960x300
Bài viết có ích cho bạn?

NGHIỆP VỤ CALICO